Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông https://jstt.vn/index.php/vn <p class="isSelectedEnd">Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông (JSTT) phiên bản Tiếng Việt (ISSN: <a href="https://portal.issn.org/resource/ISSN/2734-9942?search_id=540793a1-2708-42dd-92b6-0dbb226b2f54">2734-9942</a>) thuộc Trường Đại học Công nghệ GTVT (UTT) được xuất bản theo Giấy phép hoạt động báo chí số 399/GP-BTTTT ngày 29/6/2021 của Bộ Thông tin và Truyền Thông với số lượng xuất bản là 04 số/năm và các số đặc biệt khác.</p> <p class="isSelectedEnd">JSTT là tạp chí khoa học đa ngành, đa lĩnh vực, có phản biện, công bố các kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, kinh tế, quản lý, giáo dục và các lĩnh vực khoa học có liên quan.</p> <p class="isSelectedEnd">Tạp chí là diễn đàn học thuật dành cho các nhà khoa học, giảng viên, chuyên gia, nhà quản lý, nghiên cứu sinh và các nhà hoạt động thực tiễn trong và ngoài nước công bố, trao đổi và phổ biến các kết quả nghiên cứu mới, các thành tựu khoa học và công nghệ, các mô hình, phương pháp, giải pháp và kinh nghiệm có giá trị khoa học hoặc thực tiễn.</p> <p class="isSelectedEnd">Phạm vi công bố của Tạp chí mang tính mở và liên ngành, không giới hạn ở các chủ đề, mà bao quát các lĩnh vực của khoa học và công nghệ, bao gồm nhưng không giới hạn ở:</p> <ul data-spread="false"> <li>Khoa học tự nhiên và khoa học cơ bản;</li> <li>Kỹ thuật, công nghệ và công nghiệp;</li> <li>Giao thông vận tải, logistics và chuỗi cung ứng;</li> <li>Xây dựng, kết cấu hạ tầng, kiến trúc và quy hoạch;</li> <li>Cơ khí, ô tô, điện, điện tử, tự động hóa và viễn thông;</li> <li>Khoa học máy tính, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và chuyển đổi số;</li> <li>Khoa học Trái đất, môi trường, tài nguyên và phát triển bền vững;</li> <li>Vật liệu, năng lượng và công nghệ mới;</li> <li>Kinh tế, tài chính, quản trị, chính sách và quản lý;</li> <li>Khoa học xã hội và nhân văn;</li> <li>Khoa học giáo dục và đào tạo;</li> <li>Các lĩnh vực khoa học liên ngành và đa ngành khác.</li> </ul> <p class="isSelectedEnd">JSTT khuyến khích các nghiên cứu có tính mới, giá trị khoa học, tính liên ngành và khả năng ứng dụng, đặc biệt là các công trình tiếp cận các vấn đề mới của khoa học và thực tiễn, ứng dụng công nghệ tiên tiến, đổi mới phương pháp nghiên cứu, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ xanh và các giải pháp phục vụ phát triển bền vững.</p> <p class="isSelectedEnd">Tạp chí công bố các loại hình bài viết gồm bài báo nghiên cứu gốc, bài tổng quan, bài trao đổi khoa học, bài thông tin khoa học và công nghệ, nghiên cứu trường hợp, bài phân tích chính sách và các công trình khoa học khác đáp ứng yêu cầu về chất lượng, tính mới, đạo đức xuất bản và quy định của Tạp chí.</p> <p>Thông qua hoạt động xuất bản, JSTT hướng tới xây dựng một diễn đàn học thuật đa ngành, mở và có chất lượng, góp phần thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, chuyển giao tri thức, kết nối giữa nghiên cứu – đào tạo – quản lý – doanh nghiệp và thực tiễn, đồng thời nâng cao năng lực hội nhập của cộng đồng khoa học Việt Nam.</p> <ul> <li><a href="https://jstt.vn/index.php/vn/about#noi-dung"><strong>Nội dung đăng tải của tạp chí</strong></a></li> <li><a href="https://jstt.vn/index.php/vn/about#chinh-sach"><strong>Chính sách Tạp chí</strong></a></li> </ul> Trường Đại học Công nghệ GTVT vi-VN Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2734-9942 Nghiên cứu mạng học sâu YOLOv11, đề xuất mô hình nhận diện biển số xe người tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/675 <p>Học sâu là một lĩnh vực của trí tuệ nhân tạo, các thuật toán học sâu đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, để cải tiến kiến trúc gọn nhẹ, nâng cao tốc độ và độ chính xác. Các mô hình học sâu được xây dựng từ các thuật toán thông minh, giúp máy tính có khả năng học từ dữ liệu sẵn có và thực hiện các dự đoán, xử lý công việc một nhanh chóng chính xác. Bài báo này trình bày nghiên cứu, ứng dụng thuật toán YOLOv11 để phát hiện, nhận diện biển số xe người tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm. Mô hình được huấn luyện lại trên tập dữ liệu tùy chỉnh gồm hình ảnh người tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm, biển số xe và kí tự, nhằm phát hiện, nhận diện chính xác từng đối tượng. Kết quả cho thấy mô hình đạt được độ chính xác cao (Precision = 0.992, Recall = 0.993, mAP@50 = 0.994, mAP@50-95 = 0.774) thời gian xử lý nhanh, chứng tỏ tính khả thi khi ứng dụng trong thực tế.</p> Phạm Như Phẩm Phạm Văn Điều Nguyễn Minh Nhựt Nguyễn Thanh Minh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-07-18 2026-07-18 34 53 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.5.34-53 Chẩn đoán lỗi động cơ xăng ô tô thông qua phân tích ảnh phổ thời gian–tần số của tín hiệu dao động https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/887 <p>Nghiên cứu này đề xuất một phương pháp chẩn đoán lỗi động cơ xăng ô tô thông qua phân tích hình ảnh tín hiệu dao động, sử dụng phần mềm Gantner Instruments để thu thập dữ liệu và MATLAB để xử lý, phân tích phổ thời gian-tần số (spectrogram). Dữ liệu dao động từ động cơ thử nghiệm được thu thập trong các điều kiện vận hành khác nhau, chuyển đổi thành spectrogram và phân tích để trích xuất các đặc trưng lỗi như tần số thống trị, đỉnh biên độ và mẫu hài. Kết quả cho thấy phương pháp đạt độ chính xác 90% trong việc phát hiện và phân loại các lỗi như đánh lửa hỏng, mòn ổ bi và khe hở van bất thường. Sự kết hợp giữa Gantner Instruments và MATLAB cung cấp một khung chẩn đoán đáng tin cậy, hỗ trợ phát hiện lỗi sớm, góp phần cải thiện bảo trì và hiệu suất động cơ ô tô.</p> Cao Huỳnh Minh Hiếu Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-07-30 2026-07-30 79 88 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.5.79-88 Thiết kế bộ điều khiển Logic mờ cho đội hình AUV theo mô hình Leader-Follower https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/903 <p>Bài báo này trình bày phương pháp thiết kế bộ điều khiển Logic mờ giải quyết bài toán điều khiển đội hình cho nhóm phương tiện tự hành dưới nước (AUV) theo cấu trúc Leader-Follower. Do đặc tính phi tuyến mạnh của mô hình động lực học AUV và sự tác động bất định của nhiễu thủy động lực học, các bộ điều khiển kinh điển (như PID) thường bộc lộ hạn chế về độ chính xác và khả năng đáp ứng. Để khắc phục vấn đề này, một bộ điều khiển Logic mờ được đề xuất cho AUV Follower nhằm nâng cao chất lượng bám. Bộ điều khiển sử dụng đầu vào là sai số khoảng cách và sai số góc hướng tương đối để tinh chỉnh trực tiếp vận tốc dài và vận tốc góc của phương tiện. Hiệu quả của thuật toán đề xuất được kiểm chứng thông qua mô phỏng trên phần mềm MATLAB/Simulink. Kết quả cho thấy hệ thống duy trì đội hình ổn định, khả năng bám quỹ đạo chính xác và cải thiện đáng kể tốc độ đáp ứng so với các phương pháp truyền thống.</p> Đỗ Khắc Tiệp Nguyễn Văn Tiến Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-08-13 2026-08-13 112 125 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.5.112-125 Greenwashing: tác động đến hành vi tiêu dùng của khách hàng và sự phát triển của các doanh nghiệp xanh chân chính trong nền kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1096 <p><em>Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn, hành vi “tẩy xanh” (greenwashing) nổi lên như một rủi ro lớn đối với thị trường tiêu dùng và tiến trình phát triển bền vững của DN. Greenwashing xảy ra khi DN cố tình phóng đại hoặc sai lệch về tính thân thiện môi trường của sản phẩm, từ đó gây nhiễu thông tin, đánh lạc hướng người tiêu dùng và làm suy giảm lòng tin đối với các tuyên bố xanh. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính dựa trên tổng hợp và phân tích tài liệu</em><em>, bài viết đã đề xuất mô hình nghiên cứu về</em><em> tác động của greenwashing đến hành vi tiêu dùng của khách hàng và sự phát triển bền vững của các DN xanh chân chính</em><em> trong nền kinh tế tuần hoàn</em><em> tại Việt Nam. Kết quả cho thấy greenwashing không chỉ làm giảm ý định tiêu dùng xanh mà còn tạo ra cạnh tranh không lành mạnh, kìm hãm DN thật sự bền vững trong quá trình đổi mới, đầu tư công nghệ sạch và tham gia mô hình kinh tế tuần hoàn. Ngoài ra, việc phổ biến greenwashing khiến người tiêu dùng khó phân biệt giá trị xanh thực chất, làm chậm tốc độ chấp nhận sản phẩm tuần hoàn và cản trở nỗ lực xây dựng hệ sinh thái bền vững. Nghiên cứu nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết về minh bạch, tiêu chuẩn hóa và kiểm chứng độc lập để bảo vệ niềm tin thị trường và thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam.</em></p> Nguyễn Thị Thúy Nguyễn Thị Thái An Đỗ Thu Hoài Nguyễn Hà Phương Nguyễn Thị Ngọc Linh Trần Thị Thùy Linh Phạm Thảo Anh Phùng Quang Huy Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-08-27 2026-08-27 187 207 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.5.187-207 Những nút thắt trong phát triển phương tiện vận tải và hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số và chuyển dịch xanh https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1117 <p><span style="font-weight: 400;">Trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển dịch xanh và những biến động kinh tế – địa chính trị toàn cầu, phát triển phương tiện vận tải và hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều nút thắt mang tính cấu trúc. Nghiên cứu này nhằm nhận diện, lượng hóa và phân tích cơ chế tác động của các nhóm yếu tố thể chế – chính sách, tài chính – đầu tư, nguồn nhân lực và quản trị, hạ tầng giao thông, phương tiện vận tải xanh và chuyển đổi số đến hiệu quả phát triển hệ thống giao thông đường bộ. Dữ liệu khảo sát được thu thập từ 210 đối tượng gồm chuyên gia, cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp vận tải – logistics tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng Cronbach’s Alpha, EFA, CFA và mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để kiểm định các giả thuyết. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có tổng tác động lớn nhất đến hiệu quả phát triển hệ thống giao thông đường bộ, tiếp theo là tài chính – đầu tư và hạ tầng giao thông. Yếu tố thể chế – chính sách tác động mạnh đến chuyển đổi số và ảnh hưởng đến hiệu quả hệ thống chủ yếu thông qua kênh chuyển đổi số. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của quản trị dữ liệu, phối hợp liên ngành, cơ chế đầu tư PPP, phát triển nguồn nhân lực số và bảo đảm an ninh dữ liệu trong xây dựng hệ thống giao thông đường bộ thông minh, xanh và bền vững tại Việt Nam.</span></p> Bùi Mạnh Cường Dương Thị Ngọc Thu Lê Văn Dũng Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-08-26 2026-08-26 166 186 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.5.166-186 Đề xuất bộ chỉ số đánh giá tính dễ bị tổn thương, rủi ro và ưu tiên quản lý công trình đường bộ ven biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu: Trường hợp nghiên cứu tỉnh An Giang https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1122 <p>Biến đổi khí hậu (BĐKH) làm gia tăng tác động của các hiểm họa khí hậu (H) đến công trình đường bộ (CTĐB) ven biển, trong khi công tác quản lý khai thác (QLKT) cần thêm công cụ hỗ trợ đánh giá và ưu tiên quản lý trong điều kiện đa hiểm họa. Nghiên cứu này đề xuất bộ chỉ số H–E–S–AC, gồm H, phơi bày (E), nhạy cảm (S) và năng lực thích ứng (AC), để đánh giá tính dễ bị tổn thương (V) và rủi ro (R) đối với CTĐB ven biển. Trên cơ sở đó, chỉ số ưu tiên quản lý đa hiểm họa tổng hợp (MPI<sub>Total</sub>) được xây dựng nhằm tích hợp kết quả đánh giá R và AC của các đoạn tuyến. Phương pháp được áp dụng cho 60 đoạn tuyến đường bộ ven biển thuộc tỉnh An Giang, trước đây là tỉnh Kiên Giang. Kết quả cho thấy mức độ R có sự khác biệt giữa các khu vực và loại H; MPI<sub>Total</sub> cho phép phân nhóm các đoạn tuyến theo 04 mức ưu tiên quản lý. Kết quả nghiên cứu có thể hỗ trợ lập kế hoạch bảo trì, phân bổ nguồn lực và xem xét các giải pháp QLKT CTĐB ven biển trong bối cảnh BĐKH.</p> Lê Hoàng Sơn Ngô Thị Thanh Hương Hồ Thanh Phong Trần Tuấn Huy Nguyễn Thị Hoàng Hoa Lý Thiện Hảo Nguyễn Bá Khánh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-07-25 2026-07-25 54 78 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.5.54-78 Nghiên cứu xây dựng phương pháp giải tích tính toán cơ cấu phanh tang trống đối xứng trục dẫn động thủy lực https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1126 <p>Nghiên cứu này trình bày phương pháp giải tích để xác định các thông số động lực học của cơ cấu phanh tang trống đối xứng trục, tập trung vào việc phân bổ mô men phanh trên từng guốc phanh và xác định lực ép tại xi lanh bánh xe. Bằng cách thiết lập các hệ số hình học​ và hệ số phân bổ mô men , chương trình tính toán được xây dựng trên nền tảng MATLAB cho phép xác định chính xác lực ép &nbsp;và áp suất tiếp xúc cực đại &nbsp;trên guốc xiết và guốc nhả. Kết quả mô phỏng cho thấy mối quan hệ phi tuyến giữa góc bao má phanh ( ​) và áp suất tiếp xúc, qua đó xác định được thông số kết cấu tối ưu để đảm bảo sự đồng đều về độ mòn má phanh. Phương pháp này cung cấp một công cụ tính toán nhanh chóng, tin cậy, hỗ trợ đắc lực cho công tác thiết kế sơ bộ và tối ưu hóa thông số kỹ thuật của cơ cấu phanh trong tính toán thiết kế ô tô.</p> Hoàng Quyết Chiến Chu Văn Huỳnh Nguyễn Thành Nam Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-07-17 2026-07-17 24 33 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.5.24-33 Tối ưu hóa cường độ nén của bê tông geopolymer cường độ cao sử dụng xỉ lò cao nghiền mịn và sợi thép bằng phương pháp bề mặt đáp ứng https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1255 <p>Nghiên cứu này tối ưu hóa cường độ nén của bê tông geopolymer cường độ cao sử dụng xỉ hạt lò cao nghiền mịn (GGBS), sợi thép và dung dịch NaOH bằng phương pháp bề mặt đáp ứng với thiết kế Box–Behnken. Kết quả cho thấy mô hình hồi quy bậc hai có ý nghĩa thống kê cao và mô tả tốt quan hệ giữa các biến đầu vào với cường độ nén. Trong phạm vi khảo sát, GGBS là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất, tiếp theo là nồng độ mol NaOH, trong khi sợi thép có ảnh hưởng nhỏ hơn. Tương tác giữa GGBS và NaOH có ý nghĩa rõ rệt, còn các tương tác liên quan đến sợi thép không đáng kể. Miền tối ưu dự đoán cho cường độ nén lớn nhất khoảng 80 MPa tương ứng với GGBS cao, sợi thép khoảng 1,0% và NaOH khoảng 13–14 M.</p> Trịnh Hoàng Sơn Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-07-10 2026-07-10 1 14 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.5.1-14 Nghiên cứu xác định lực liên kết của hệ thống treo đối với xe tải nhiều cầu https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1257 <p>Bài báo trình bày nghiên cứu xác định lực tại các điểm liên kết của hệ thống treo và khung xe tải nhiều cầu trong quá trình dao động. Đây là những thông số đầu vào quan trọng phục vụ việc tính toán bền, tối ưu hóa kết cấu khung vỏ và đánh giá tải trọng động tác động lên bề mặt đường. Đối tượng là xe ô tô tải nhiều cầu sử dụng hệ thống treo cân bằng. Nghiên cứu thiết lập mô hình dao động không gian cho xe tải nhiều cầu theo phương pháp hệ nhiều vật, kết hợp mô hình mô phỏng bằng phần mềm MATLAB-Simulink. Kết quả mô phỏng cho phép xác định giá trị và quy luật biến thiên của lực liên kết tại các trục bánh xe theo thời gian và miền tần số, đây là cơ sở phục vụ cho việc thiết kế điều chỉnh các đặc tính đàn hồi, giảm chấn của hệ thống treo, nhằm nâng cao độ bền khung xe và hạn chế tối đa các tác động của tải trọng động gây hư hỏng kết cấu hạ tầng giao thông khi xe hoạt động</p> Đào Thị Hương Giang Trần Thanh An Phùng Anh Tuấn Tạ Tuấn Hưng Nguyễn Anh Ngọc Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-07-16 2026-07-16 15 23 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.5.15-23 Đánh giá suy giảm sức kháng kết cấu của cọc ống thép do ăn mòn trong môi trường biển Việt Nam https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1283 <p>Cọc ống thép được sử dụng rộng rãi trong công trình bến cảng, cầu cảng, cầu ven biển, cầu vượt biển và các kết cấu móng cọc bệ cao. Trong môi trường biển, đặc biệt tại các đoạn cọc nằm tự do hoặc bán tự do trong nước biển, vùng thủy triều và vùng bắn tóe, ăn mòn có thể làm suy giảm chiều dày thành cọc, diện tích tiết diện thép và các đặc trưng cơ học của tiết diện. Nghiên cứu này đánh giá sự suy giảm sức kháng kết cấu của cọc ống thép do ăn mòn trong môi trường biển Việt Nam. Bộ TCVN 11820 được sử dụng làm khung tiêu chuẩn tham chiếu, trong đó TCVN 11820-5:2021 liên quan đến công trình bến, TCVN 11820-2:2017 liên quan đến tải trọng và tác động, TCVN 11820-3:2019 liên quan đến vật liệu, và TCVN 11820-4-1:2020 liên quan đến nền móng công trình cảng biển. Dữ liệu hao hụt khối lượng do ăn mòn được mô tả bằng mô hình Weibull hai tham số với k=1,226 và η=70,761 năm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xác định diện tích tiết diện thép còn lại, chiều dày tương đương, mô men quán tính, mô đun chống uốn, bán kính quán tính và tỷ số D/tr theo thời gian. Kết quả tính toán cho thấy, với cọc có đường kính ngoài D=1500 mm và chiều dày ban đầu t0=16 mm, tại 50 năm, tỷ lệ hao hụt khối lượng đạt 47,97%, diện tích tiết diện thép còn khoảng 52,0%, chiều dày tương đương còn 8,28 mm, mô men quán tính và mô đun chống uốn còn khoảng 52,6% so với ban đầu. Tỷ số D/tr tăng từ 93,75 ban đầu lên 181,11 tại 50 năm và 435,79 tại 100 năm, cho thấy nguy cơ mảnh hóa đáng kể theo thời gian; đây là chỉ báo cần được xem xét khi kiểm tra ổn định cục bộ trong đánh giá dài hạn, đặc biệt đối với trường hợp có ăn mòn không đều hoặc ăn mòn cục bộ.</p> Lê Trung Hiếu Nguyễn Thị Tuyết Trinh Ngô Quốc Trinh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-08-09 2026-08-09 89 101 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.5.89-101 Nâng cao độ chính xác dữ liệu đo lường sóng và dòng chảy dựa trên thuật toán Wiener–Kalman cho an toàn hàng hải https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1299 <p>Việc ước lượng chính xác các thông số sóng và dòng chảy là yếu tố tiên quyết nhằm đảm bảo an toàn và nâng cao hiệu quả trong quá trình lai dắt tàu cập cảng. Để giải quyết bài toán này, nghiên cứu đề xuất một cấu trúc lọc lai kết hợp giữa nguyên lý Wiener và bộ lọc Kalman. Cụ thể, nguyên lý Wiener được ứng dụng để đánh giá độ tin cậy của phổ cục bộ, từ đó cập nhật thích nghi ma trận hiệp phương sai nhiễu đo. Đồng thời, thuật toán Kalman thực hiện quá trình ước lượng trạng thái đệ quy nhằm tối ưu hóa sai số giữa dự đoán từ mô hình và dữ liệu đo theo thời gian thực. Chất lượng của giải pháp đề xuất được mô phỏng thử nghiệm trên phần mềm MATLAB thông qua ba kịch bản với mức độ phức tạp của nhiễu động tăng dần. Để đánh giá hiệu quả, giải pháp đề xuất được so sánh với các bộ lọc Kalman thích nghi, Kalman bền vững và Unscented Kalman căn bậc hai dựa trên các tiêu chí căn sai số bình phương trung bình (RMSE) và sai số tuyệt đối trung bình (MAE). Kết quả mô phỏng đã khẳng định độ tin cậy và khả năng ứng dụng của giải pháp đề xuất vào các hệ thống quan trắc hàng hải tại những môi trường có đặc tính thủy động lực học phức tạp như khu vực cảng biển.</p> Trương Đức Quỳnh Đặng Xuân Kiên Đỗ Việt Dũng Lý Sợi Nguyễn Duy Quốc Thái Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-08-24 2026-08-24 148 165 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.5.148-165 Tích hợp tư duy thiết kế và thiết kế từ chuẩn đầu ra trong phát triển chương trình đào tạo theo định hướng OBE: Khung khái niệm và đề xuất mô hình áp dụng tại Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1304 <p><span style="font-weight: 400;">Trong bối cảnh thị trường lao động đòi hỏi năng lực thích ứng cao, việc phát triển chương trình đào tạo (CTĐT) truyền thống tại các cơ sở giáo dục đại học, tiêu biểu như Trường Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh (UTH), vẫn tồn tại khoảng cách giữa chuẩn đầu ra và yêu cầu thực tế. Bài báo nghiên cứu việc tích hợp tư duy thiết kế và thiết kế từ chuẩn đầu ra nhằm gia tăng tính linh hoạt cho quy trình phát triển CTĐT theo định hướng giáo dục dựa trên kết quả (OBE). </span><span style="font-weight: 400;"> </span><span style="font-weight: 400;">Bằng phương pháp hỗn hợp nhằm phân tích thực chứng bối cảnh tại UTH, nghiên cứu đề xuất khung khái niệm và mô hình triển khai ba giai đoạn</span><span style="font-weight: 400;">: (1) đồng cảm nhu cầu các bên liên quan để xác lập chuẩn đầu ra; (2) Thiết kế hệ thống đánh giá thực chứng; (3) Thử nghiệm và hoàn thiện hoạt động dạy học. Nghiên cứu cung cấp công cụ phương pháp luận cùng bộ chỉ báo đánh giá cụ thể, giúp nhà quản lý giáo dục tối ưu hóa tính thích ứng và hiệu quả đào tạo trong thực tiễn.</span></p> Vũ Ngọc Hà Nguyễn Thị Phương Thảo Đỗ Xuân Tiến Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-08-21 2026-08-21 126 135 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.5.126-135 Xây dựng mô hình tham số hình học phục vụ thiết kế thân tàu lướt tốc độ cao https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1307 <p>Bài báo trình bày phương pháp xây dựng mô hình hình học tham số cho thân tàu lướt phục vụ thiết kế tàu cao tốc trong giai đoạn thiết kế sơ bộ. Hình dạng thân tàu được mô tả thông qua các tham số hình học cơ bản như chiều dài, chiều rộng, mớn nước và góc deadrise (góc nghiêng đáy tàu). Trên cơ sở đó, mô hình hình học ba chiều của thân tàu được sinh tự động thông qua các đường đặc trưng gồm đường sống chính, đường chine và đường mép boong. Bề mặt thân tàu được xây dựng bằng phương pháp nội suy hình học nhằm đảm bảo tính liên tục của bề mặt và khả năng điều chỉnh linh hoạt hình dạng thông qua các tham số thiết kế. Mô hình được tích hợp trong môi trường tính toán để tạo nhanh nhiều phương án thân tàu khác nhau phục vụ khảo sát thiết kế. Từ mô hình hình học thu được, các đặc tính hình học và thủy tĩnh cơ bản như thể tích chiếm nước và các tỷ lệ hình học đặc trưng được xác định nhằm đánh giá tính hợp lý của thiết kế. Kết quả cho thấy mô hình cho phép xây dựng nhanh các phương án hình học thân tàu phục vụ giai đoạn thiết kế sơ bộ.</p> Văn Toàn Lê Xuân Kiên Đặng Trần Anh Minh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-08-12 2026-08-12 102 111 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.5.102-111 Nghiên cứu đặc tính sóng áp suất khi tàu cao tốc đi vào hầm bằng phương pháp mô phỏng số CFD https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1314 <p>Nghiên cứu này sử dụng phương pháp động lực học chất lưu tính toán (CFD) để mô phỏng quá trình tàu cao tốc đi vào đường hầm với vận tốc 350 km/h. Mô hình được xây dựng trong ANSYS Fluent, giải hệ phương trình Navier–Stokes trung bình theo Reynolds kết hợp với mô hình rối RNG k–ε nhằm mô tả đặc tính dòng chảy không ổn định trong hầm. Trọng tâm của nghiên cứu là phân tích sự hình thành và lan truyền của sóng áp suất trong giai đoạn tàu bắt đầu đi vào hầm, đồng thời đánh giá sự biến đổi của trường áp suất và ảnh hưởng của nó đến môi trường khí động. Kết quả mô phỏng cho thấy sóng nén ban đầu hình thành tại cửa hầm và lan truyền dọc theo chiều dài hầm, đồng thời tạo ra các vùng biến thiên áp suất rõ rệt và ảnh hưởng đến chuyển động của dòng khí trong hầm. Những kết quả này góp phần làm rõ đặc tính khí động trong giai đoạn đầu của quá trình tàu đi vào hầm.</p> Hoàng Văn Chuẩn Nguyễn Thành Sa Nguyễn Hồng Thắng Lê Văn Vang Trần Tiến Đạt Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-08-23 2026-08-23 136 147 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.5.136-147