Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông https://jstt.vn/index.php/vn <p>Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông (JSTT) phiên bản Tiếng Việt (ISSN: 2734-9942) thuộc Trường Đại học Công nghệ GTVT (UTT) được xuất bản theo Giấy phép hoạt động báo chí số 399/GP-BTTTT ngày 29/6/2021 của Bộ Thông tin và Truyền Thông với số lượng xuất bản là 04 số/năm và các số đặc biệt khác.</p> <p>JSTT là một Tạp chí khoa học bình duyệt, xuất bản các bài báo khoa học, các báo cáo và thông tin khoa học trong tất cả các khía cạnh của khoa học và các chủ đề liên quan chủ yếu đến giao thông và xây dựng, kinh tế, cơ khí, công nghệ thông tin. Tạp chí bao gồm các lĩnh vực nhưng không giới hạn:<br />- Quy hoạch và kỹ thuật giao thông<br />- Công trình xây dựng và dân dụng<br />- Vật liệu xây dựng<br />- Kỹ thuật cơ khí<br />- Cơ học<br />- Địa kỹ thuật<br />- Logistics và vận tải hàng hóa<br />- Kinh tế và quản lý xây dựng<br />- Khoa học môi trường<br />- Khoa học trái đất<br />- Khoa học máy tính<br />- Điện, điện tử, viễn thông<br />- Kỹ thuật ô tô<br />- Khoa học tự nhiên<br />- Khoa học cơ bản<br />- Khoa học xã hội và nhân văn<br />- Khoa học giáo dục</p> <ul> <li><a href="https://jstt.vn/index.php/vn/about#noi-dung"><strong>Nội dung đăng tải của tạp chí</strong></a></li> <li><a href="https://jstt.vn/index.php/vn/about#chinh-sach"><strong>Chính sách Tạp chí</strong></a></li> </ul> Trường Đại học Công nghệ GTVT vi-VN Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2734-9942 Thiết kế bộ điều khiển trượt backstepping cho hệ truyền động động cơ từ trở chuyển mạch không sử dụng cảm biến https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/544 <p>Động cơ từ trở chuyển mạch là động cơ có nhiều ưu điểm nổi bật, dần được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp và gia dụng. Tuy nhiên, động cơ từ trở chuyển mạch có tính phi tuyến rất mạnh, khó điều khiển, cần một bộ điều khiển phi tuyến nhằm cải thiện chất lượng của hệ truyền động. Đồng thời, để tổng hợp được thuật toán điều khiển chính xác, mô hình toán của hệ truyền động động cơ từ trở chuyển mạch cần đầy đủ. Bài báo này trình bày thuật toán điều khiển trượt backstepping được tổng hợp từ mô hình phi tuyến toàn diện của động cơ từ trở chuyển mạch – là mô hình kết hợp giữa bộ chuyển mạch và động cơ. Bộ quan sát trạng thái phi tuyến được sử dụng trong hệ thống nhằm giảm thiểu thiết bị đo lường. Tính ổn định của hệ thống được chứng minh bằng tiêu chuẩn Lyapunov. Kết quả mô phỏng cho thấy bộ điều khiển trượt backstepping được tổng hợp từ mô hình phi tuyến mới kết hợp bộ quan sát trạng thái cho chất lượng tương đương với hệ truyền động dùng cảm biến. Kết quả này mở ra triển vọng phát triển hệ truyền động động cơ từ trở không sử dụng cảm biến trong tương lai.</p> Phí Hoàng Nhã Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-04-11 2026-04-11 1 10 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.4.1-10 Đánh giá các khía cạnh kỹ thuật, kinh tế và môi trường của mô hình năng lượng mặt trời cho các trang trại nuôi tôm https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/752 <p>Nghiên cứu này nhằm mục đích phát triển và đánh giá hệ thống điện mặt trời lai được tích hợp vào hoạt động nuôi tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, tập trung vào việc cải thiện hiệu suất năng lượng, giảm chi phí vận hành và giảm thiểu tác động đến môi trường. Hệ thống được thiết kế để hoạt động theo ba kịch bản: kết nối lưới điện có và không có bộ lưu trữ và cấu hình độc lập với máy phát điện diesel. Mô phỏng và tối ưu hóa đã được thực hiện bằng Thuật toán NSGA-II trong MATLAB để đánh giá các chỉ số hiệu suất kinh tế và kỹ thuật của hệ thống, chẳng hạn như chi phí hàng năm, lượng khí thải CO₂, tỷ lệ tự tiêu thụ và tỷ lệ tự cung tự cấp. Các phát hiện chỉ ra rằng hệ thống kết nối lưới điện với bộ lưu trữ cung cấp giải pháp hiệu quả về chi phí và bền vững nhất về mặt môi trường, đạt tỷ lệ lợi ích-chi phí là 1,99, giá trị hiện tại ròng (NPV) là 68.055 đô la và thời gian hoàn vốn là 6,86 năm. Hệ thống cũng chứng minh tiềm năng giảm CO₂ lên tới 75 tấn mỗi năm. Mô hình này thể hiện tính tự chủ và ổn định năng lượng cao đồng thời đảm bảo lợi nhuận, đưa ra phương pháp có thể mở rộng để tích hợp năng lượng tái tạo vào nuôi trồng thủy sản và cung cấp mô hình có thể nhân rộng cho nuôi tôm bền vững.</p> Nguyễn Mộng Long Nguyễn Trọng Hiếu Trần Thị Hồng Châu Hoàng Đăng Khoa Nguyễn Nhựt Tiến Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-04-28 2026-04-28 49 61 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.4.49-61 Lựa chọn nhà cung cấp bền vững cho SMEs thủy sản Việt Nam bằng FUZZY TOPSIS và TODIM https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/101-125 <p>Trong bối cảnh ngành thủy sản Việt Nam chịu áp lực gia tăng từ yêu cầu quốc tế về phát triển bền vững và chuyển đổi số, việc lựa chọn nhà cung cấp đáp ứng đồng thời các tiêu chí kinh tế, môi trường, xã hội và số hóa trở thành yếu tố then chốt nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs). Nghiên cứu này xây dựng bộ tiêu chí gồm bốn nhóm chính và áp dụng hai phương pháp ra quyết định đa tiêu chí mờ – Fuzzy TOPSIS và Fuzzy TODIM – để xử lý dữ liệu không chắc chắn trong đánh giá nhà cung cấp. Kết quả thử nghiệm với tình huống giả định cho thấy Fuzzy TOPSIS phù hợp cho sàng lọc nhanh, trong khi Fuzzy TODIM phản ánh tốt tâm lý người ra quyết định, cung cấp góc nhìn sâu hơn khi các phương án chênh lệch nhỏ. Sự kết hợp hai phương pháp này giúp nâng cao độ chính xác, độ tin cậy và tính toàn diện trong đánh giá, đồng thời mở rộng ứng dụng Fuzzy MCDM cho lựa chọn nhà cung cấp bền vững trong bối cảnh chuyển đổi số của SMEs thủy sản Việt Nam.</p> Võ Trần Thị Bích Châu Nguyễn Thị Kim Loan Nguyễn Thị Kiều Nương Trần Huỳnh Phương Thy Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-05-14 2026-05-14 101 125 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.4.101-125 Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng của quản lý nhà nước đến đầu tư và khai thác chung cư cao tầng thương mại tại Đồng Nai và Bình Dương https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1028 <p>Đồng Nai và Bình Dương là địa phương kế cận với TP.HCM nên nếu xét dưới góc độ quy hoạch vùng và quy hoạch đô thị có thể gọi là các đô thị vệ tinh lớn của TP.HCM. Cùng với sự phát triển về kinh tế, các khu đô thị này ngày càng thu hút lớn lượng cư dân từ mọi miền đất nước về sinh sống. Nhằm tận dụng hệ số sử dụng đất, các chung cư cao tầng xuất hiện ở Đồng Nai; Bình Dương như một nhu cầu tất yếu. Do tốc độ phát triển hạ tầng nhanh, nhiều vấn đề về mặt quản lý nhà nước đã phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng và quản lý khai khác các chung cư cao tầng thương mại. Vì vậy, nghiên cứu này sử dụng phương pháp khảo sát, hồi quy để xác định và đo lường ảnh hưởng của các yếu tố thuộc quản lý nhà nước đến hiệu quả đầu tư và vận hành chung cư. Nghiên cứu này thiết kế một bảng câu hỏi chi tiết và thu thập 250 kết quả khảo sát và tiến hành phân tích và hồi quy. Kết quả, giá trị R<sup>2</sup> hiệu chỉnh đạt 0.69 cho thấy mô hình giải thích được 69% sự biến thiên về hiệu quả đầu tư và khai thác chung cư. Phân tích tầm quan trọng cũng cho thấy rằng, các yếu tố pháp lý, kiểm soát của quản lý nhà nước và công tác đầu tư dự án có ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả đầu tư và khai thác chung cư cao tầng thương mại tại Đồng Nai và Bình Dương. Kết quả phân tích sẽ làm tiền đề để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đầu tư xây dựng và quản lý khai thác chung cư tại địa phận các tỉnh Đồng Nai và Bình Dương.</p> Phạm Tuấn Anh Nguyễn Hữu Tân Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-05-12 2026-05-12 62 86 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.4.62-86 NovaLog AI: Hệ thống học máy dự báo thời gian di chuyển và hỗ trợ định tuyến Logistic https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1127 <p>Chi phí logistics tại Việt Nam hiện chiếm khoảng 16,8% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu do những hạn chế về hạ tầng và sự phân mảnh, thiếu đồng bộ của dữ liệu. Để giải quyết bài toán này, nghiên cứu đề xuất xây dựng hệ thống NovaLog AI nhằm dự báo nhu cầu và tối ưu hóa quy trình quản lý tại các trạm trung chuyển hàng hóa. Nghiên cứu sử dụng một bộ dữ liệu thực chứng đa chiều tác động đến thời gian di chuyển, bao gồm các đặc trưng về không gian, thời gian và khí tượng học. Tám thuật toán học máy phổ biến đã được triển khai và so sánh hiệu suất thông qua phương pháp xác thực chéo kết hợp với 30 lần chạy mô phỏng Monte Carlo để kiểm định tính ổn định. Kết quả đánh giá tổng hợp dựa trên các chỉ số R² và RMSE chỉ ra rằng XGBoost là mô hình dự báo chính xác nhất, với R² đạt 0.9507 (RMSE = 2.3531) trên tập huấn luyện và R² đạt 0.8399 (RMSE = 4.2512) trên tập kiểm tra. Đồng thời, thông qua việc xếp hạng độ quan trọng của các biến, nghiên cứu xác định được 4 yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến hiệu suất dự báo là: quãng đường, giờ đi, vĩ độ đi và độ ẩm. Hệ thống NovaLog AI cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho các doanh nghiệp trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tối ưu hóa lộ trình, cải thiện hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng và cắt giảm chi phí logistics tại Việt Nam.</p> Nguyễn Trọng Dũng Nguyễn Văn Hải Triệu Vân Anh Đỗ Thị Hạnh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-04-26 2026-04-26 26 48 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.4.26-48 Nghiên cứu ý định sử dụng dịch vụ vận tải hành khách công cộng khi áp dụng chuyển đổi số tại thành phố Hà Nội https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1156 <p>Nghiên cứu này vận dụng mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ SERVPERF để nghiên cứu&nbsp; cảm nhận của hành khách về các khía cạnh của chất lượng dịch vụ VTHKCC trong môi trường chuyển đổi số. Quá trình nghiên cứu tiến hành khảo sát và thu được 217 phiếu hợp lệ, sau đó phân tích trên Smart PLS3, kết quả cho thấy các yếu tố tin cậy có ảnh hưởng cùng chiều, yếu tố đảm bảo và đồng cảm, đáp ứng có ảnh hưởng cùng chiều và đáng kể đến sự hài lòng và ý định sử dụng dịch vụ vận tải hành khách công cộng trong bối cảnh chuyển đổi số.</p> Trần Đình Tuấn Hoàng Thị Hồng Lê Đặng Việt Phương Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-06-04 2026-06-04 126 139 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.4.126-139 Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo kỹ sư ô tô năng lượng mới tại Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải đáp ứng yêu cầu chương trình hợp tác Việt - Trung https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1173 <table> <tbody> <tr> <td> <p>Trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng xanh toàn cầu, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành xe năng lượng mới trở thành yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam. Bài báo tập trung nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo trong chương trình hợp tác mô hình “3+1” giữa Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải (UTT) và Trường Cao đẳng Kỹ thuật nghề Giao thông Quảng Tây (Trung Quốc) nhằm đáp ứng lộ trình chuyển đổi năng lượng xanh của Chính phủ. Bằng phương pháp phân tích đối soát khung chương trình đào tạo và khảo sát thực tiễn tại hệ thống xưởng thực hành hiện đại của đối tác, tác giả đã xác định các rào cản về thích nghi kỹ thuật và ngôn ngữ chuyên ngành mà sinh viên thường gặp phải. Nghiên cứu đề xuất bốn nhóm giải pháp trọng tâm: (1) Đồng bộ hóa các học phần công nghệ cốt lõi (Pin, BMS, hệ thống lái thông minh) dựa trên tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp 1+X; (2) Ứng dụng hệ thống mô phỏng số và thực tế ảo (VR/AR) trong giảng dạy; (3) Bồi dưỡng đội ngũ giảng viên theo hướng thông tin hóa; (4) Thiết lập hệ sinh thái hợp tác với các doanh nghiệp sản xuất xe điện như BYD, Wuling tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để chuẩn hóa quy trình hợp tác đào tạo, giúp sinh viên làm chủ công nghệ xe năng lượng mới và đáp ứng các tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng nhân lực quốc tế theo khung tham chiếu trình độ ASEAN.</p> </td> </tr> </tbody> </table> Phùng Anh Tuấn Nguyễn Thị Vân Anh Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-05-13 2026-05-13 87 100 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.4.87-100 Ứng dụng mô hình mạng nơ-ron đa lớp (MLP) trong xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ sụt lún khu vực Hà Nội, Việt Nam https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1184 <p>Lún bề mặt là một trong những mối nguy hiểm địa kỹ thuật lớn ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng, kết cấu kỹ thuật và sự phát triển bền vững của các đô thị. Do đó, việc dự đoán và xác định các khu vực dễ bị lún bề mặt ngày càng thu hút sự chú ý trong những năm gần đây. Nghiên cứu này sử dụng mô hình Mạng nơ-ron đa lớp (MLP) để phân tích không gian để lập bản đồ mức độ nhạy cảm với lún bề mặt ở khu vực Hà Nội. Dữ liệu lún bề mặt được lấy từ hình ảnh vệ tinh và được xử lý bằng kỹ thuật PS-InSAR để định lượng biến dạng bề mặt. Bộ dữ liệu thu được sau đó được chia thành hai tập con, với 70% được sử dụng để đào tạo mô hình và 30% để xác nhận. Tổng cộng có 14 yếu tố ảnh hưởng được chọn làm biến đầu vào, bao gồm: độ sâu mực nước ngầm, lượng mưa, khoảng cách đến sông, khoảng cách đến đường, khoảng cách đến đứt gãy, sử dụng đất (LULC), chỉ số độ ẩm địa hình (TWI), chỉ số thực vật chênh lệch chuẩn hóa (NDVI), chỉ số sức mạnh dòng chảy (SPI), địa chất, hướng bờ dốc, hình dáng bề mặt, góc bờ dốc, độ cao địa hình. Phương pháp Tỷ lệ tần suất (FR) được áp dụng để đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố này và sự xuất hiện của hiện tượng lún bề mặt. Hiệu suất dự đoán của mô hình và bản đồ khả năng lún bề mặt được tạo ra đã được xác thực bằng cách sử dụng sai số bình phương trung bình gốc (RMSE) và diện tích dưới đường cong đặc tính hoạt động của bộ thu (AUC–ROC). Phân tích AUC cho thấy mô hình MLP đạt độ chính xác dự đoán cao, với giá trị AUC = 0,873 với tập đào tạo và AUC = 0,869 với tập kiểm chứng.</p> Nguyễn Thanh Tuấn Bùi Thị Như Trần Thanh Hải Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-04-24 2026-04-24 11 25 10.58845/jstt.utt.2026.vn.6.4.11-25