https://jstt.vn/index.php/vn/issue/feed Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông 2026-06-30T00:00:00+00:00 Phạm Thái Bình binhpt@utt.edu.vn Open Journal Systems <p>Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông (JSTT) phiên bản Tiếng Việt (ISSN: 2734-9942) thuộc Trường Đại học Công nghệ GTVT (UTT) được xuất bản theo Giấy phép hoạt động báo chí số 399/GP-BTTTT ngày 29/6/2021 của Bộ Thông tin và Truyền Thông với số lượng xuất bản là 04 số/năm và các số đặc biệt khác.</p> <p>JSTT là một Tạp chí khoa học bình duyệt, xuất bản các bài báo khoa học, các báo cáo và thông tin khoa học trong tất cả các khía cạnh của khoa học và các chủ đề liên quan chủ yếu đến giao thông và xây dựng, kinh tế, cơ khí, công nghệ thông tin. Tạp chí bao gồm các lĩnh vực nhưng không giới hạn:<br />- Quy hoạch và kỹ thuật giao thông<br />- Công trình xây dựng và dân dụng<br />- Vật liệu xây dựng<br />- Kỹ thuật cơ khí<br />- Cơ học<br />- Địa kỹ thuật<br />- Logistics và vận tải hàng hóa<br />- Kinh tế và quản lý xây dựng<br />- Khoa học môi trường<br />- Khoa học trái đất<br />- Khoa học máy tính<br />- Điện, điện tử, viễn thông<br />- Kỹ thuật ô tô<br />- Khoa học tự nhiên<br />- Khoa học cơ bản<br />- Khoa học xã hội và nhân văn<br />- Khoa học giáo dục</p> <ul> <li><a href="https://jstt.vn/index.php/vn/about#noi-dung"><strong>Nội dung đăng tải của tạp chí</strong></a></li> <li><a href="https://jstt.vn/index.php/vn/about#chinh-sach"><strong>Chính sách Tạp chí</strong></a></li> </ul> https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/544 Thiết kế bộ điều khiển trượt backstepping cho hệ truyền động động cơ từ trở chuyển mạch không sử dụng cảm biến 2026-04-08T07:21:03+00:00 Phí Hoàng Nhã nhaph@haui.edu.vn <p>Động cơ từ trở chuyển mạch là động cơ có nhiều ưu điểm nổi bật, dần được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp và gia dụng. Tuy nhiên, động cơ từ trở chuyển mạch có tính phi tuyến rất mạnh, khó điều khiển, cần một bộ điều khiển phi tuyến nhằm cải thiện chất lượng của hệ truyền động. Đồng thời, để tổng hợp được thuật toán điều khiển chính xác, mô hình toán của hệ truyền động động cơ từ trở chuyển mạch cần đầy đủ. Bài báo này trình bày thuật toán điều khiển trượt backstepping được tổng hợp từ mô hình phi tuyến toàn diện của động cơ từ trở chuyển mạch – là mô hình kết hợp giữa bộ chuyển mạch và động cơ. Bộ quan sát trạng thái phi tuyến được sử dụng trong hệ thống nhằm giảm thiểu thiết bị đo lường. Tính ổn định của hệ thống được chứng minh bằng tiêu chuẩn Lyapunov. Kết quả mô phỏng cho thấy bộ điều khiển trượt backstepping được tổng hợp từ mô hình phi tuyến mới kết hợp bộ quan sát trạng thái cho chất lượng tương đương với hệ truyền động dùng cảm biến. Kết quả này mở ra triển vọng phát triển hệ truyền động động cơ từ trở không sử dụng cảm biến trong tương lai.</p> 2026-04-11T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/583 Phân tích chất lượng trái cây bằng phương pháp phổ trở kháng điện hóa 2026-04-08T02:34:24+00:00 Nguyễn Phan Kiên Kien.nguyenphan@hust.edu.vn Vũ Thanh Bình Jkay2k4@gmail.com Nguyễn Bá Đức hahi.duc@gmail.com Bùi Quốc Bình buiquocbinh318@gmail.com Nguyễn Quỳnh Như Quynhnhu8604@gmail.com <table> <tbody> <tr> <td> <p>Xoài, táo và lê là những loại hoa quả được tiêu thụ nhiều tại Việt Nam. Việc lạm dụng thuốc chống nấm carbendazim để bảo quản xoài, là tình trạng phổ biến hiện nay, ảnh hưởng đến khả năng xuất khẩu bên cạnh các tác động về sức khỏe, môi trường. Nghiên cứu này đề xuất xây dựng hệ thống đo lường phổ trở kháng (EIS) theo phương pháp đo phân áp nhằm phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật carbendazim một cách nhanh nhất. Hệ thống được xây dựng bao gồm bốn khối chính: khối tạo xung hình sine, khối đọc biên độ, khối đọc pha và điện cực đo mẫu. Phép đo được thực hiện trong dải tần từ 100 Hz – 200 kHz. Kết quả đã chứng minh phương pháp có thể xác định được khả năng ngâm tẩm hóa chất thông qua việc tính toán trở kháng của mẫu đo và xây dựng tệp dữ liệu giữa quả tẩm và không tẩm. Nghiên cứu mở ra nhiều tiềm năng khi vẫn xác định chính xác khả năng tẩm hóa chất, chi phí rẻ, dễ triển khai ở các điều kiện môi trường bình thường, không phá hủy mẫu đo, từ đó mở ra tiềm năng bảo vệ, nâng cao lợi ích gười tiêu dùng trog vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm.</p> </td> </tr> </tbody> </table> 2026-06-21T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/752 Đánh giá các khía cạnh kỹ thuật, kinh tế và môi trường của mô hình năng lượng mặt trời cho các trang trại nuôi tôm 2026-02-25T08:54:26+00:00 Nguyễn Mộng Long nmlong@ctvc.edu.vn Nguyễn Trọng Hiếu nthieu@ctvc.edu.vn Trần Thị Hồng Châu tthchau@ctvc.edu.vn Hoàng Đăng Khoa hdkhoa@ctu.edu.vn Nguyễn Nhựt Tiến nntien@ctu.edu.vn <p>Nghiên cứu này nhằm mục đích phát triển và đánh giá hệ thống điện mặt trời lai được tích hợp vào hoạt động nuôi tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, tập trung vào việc cải thiện hiệu suất năng lượng, giảm chi phí vận hành và giảm thiểu tác động đến môi trường. Hệ thống được thiết kế để hoạt động theo ba kịch bản: kết nối lưới điện có và không có bộ lưu trữ và cấu hình độc lập với máy phát điện diesel. Mô phỏng và tối ưu hóa đã được thực hiện bằng Thuật toán NSGA-II trong MATLAB để đánh giá các chỉ số hiệu suất kinh tế và kỹ thuật của hệ thống, chẳng hạn như chi phí hàng năm, lượng khí thải CO₂, tỷ lệ tự tiêu thụ và tỷ lệ tự cung tự cấp. Các phát hiện chỉ ra rằng hệ thống kết nối lưới điện với bộ lưu trữ cung cấp giải pháp hiệu quả về chi phí và bền vững nhất về mặt môi trường, đạt tỷ lệ lợi ích-chi phí là 1,99, giá trị hiện tại ròng (NPV) là 68.055 đô la và thời gian hoàn vốn là 6,86 năm. Hệ thống cũng chứng minh tiềm năng giảm CO₂ lên tới 75 tấn mỗi năm. Mô hình này thể hiện tính tự chủ và ổn định năng lượng cao đồng thời đảm bảo lợi nhuận, đưa ra phương pháp có thể mở rộng để tích hợp năng lượng tái tạo vào nuôi trồng thủy sản và cung cấp mô hình có thể nhân rộng cho nuôi tôm bền vững.</p> 2026-04-28T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/101-125 Lựa chọn nhà cung cấp bền vững cho SMEs thủy sản Việt Nam bằng FUZZY TOPSIS và TODIM 2026-05-01T02:35:23+00:00 Võ Trần Thị Bích Châu vttbchau@ctu.edu.vn Nguyễn Thị Kim Loan oanb2103153@student.ctu.edu.vn Nguyễn Thị Kiều Nương nuongb2103161@student.ctu.edu.vn Trần Huỳnh Phương Thy thpthy@ctu.edu.vn <p>Trong bối cảnh ngành thủy sản Việt Nam chịu áp lực gia tăng từ yêu cầu quốc tế về phát triển bền vững và chuyển đổi số, việc lựa chọn nhà cung cấp đáp ứng đồng thời các tiêu chí kinh tế, môi trường, xã hội và số hóa trở thành yếu tố then chốt nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs). Nghiên cứu này xây dựng bộ tiêu chí gồm bốn nhóm chính và áp dụng hai phương pháp ra quyết định đa tiêu chí mờ – Fuzzy TOPSIS và Fuzzy TODIM – để xử lý dữ liệu không chắc chắn trong đánh giá nhà cung cấp. Kết quả thử nghiệm với tình huống giả định cho thấy Fuzzy TOPSIS phù hợp cho sàng lọc nhanh, trong khi Fuzzy TODIM phản ánh tốt tâm lý người ra quyết định, cung cấp góc nhìn sâu hơn khi các phương án chênh lệch nhỏ. Sự kết hợp hai phương pháp này giúp nâng cao độ chính xác, độ tin cậy và tính toàn diện trong đánh giá, đồng thời mở rộng ứng dụng Fuzzy MCDM cho lựa chọn nhà cung cấp bền vững trong bối cảnh chuyển đổi số của SMEs thủy sản Việt Nam.</p> 2026-05-14T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1028 Đánh giá những yếu tố ảnh hưởng của quản lý nhà nước đến đầu tư và khai thác chung cư cao tầng thương mại tại Đồng Nai và Bình Dương 2026-04-07T06:57:38+00:00 Phạm Tuấn Anh anhpt@utt.edu.vn Nguyễn Hữu Tân xdphukienhung@gmail.com <p>Đồng Nai và Bình Dương là địa phương kế cận với TP.HCM nên nếu xét dưới góc độ quy hoạch vùng và quy hoạch đô thị có thể gọi là các đô thị vệ tinh lớn của TP.HCM. Cùng với sự phát triển về kinh tế, các khu đô thị này ngày càng thu hút lớn lượng cư dân từ mọi miền đất nước về sinh sống. Nhằm tận dụng hệ số sử dụng đất, các chung cư cao tầng xuất hiện ở Đồng Nai; Bình Dương như một nhu cầu tất yếu. Do tốc độ phát triển hạ tầng nhanh, nhiều vấn đề về mặt quản lý nhà nước đã phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng và quản lý khai khác các chung cư cao tầng thương mại. Vì vậy, nghiên cứu này sử dụng phương pháp khảo sát, hồi quy để xác định và đo lường ảnh hưởng của các yếu tố thuộc quản lý nhà nước đến hiệu quả đầu tư và vận hành chung cư. Nghiên cứu này thiết kế một bảng câu hỏi chi tiết và thu thập 250 kết quả khảo sát và tiến hành phân tích và hồi quy. Kết quả, giá trị R<sup>2</sup> hiệu chỉnh đạt 0.69 cho thấy mô hình giải thích được 69% sự biến thiên về hiệu quả đầu tư và khai thác chung cư. Phân tích tầm quan trọng cũng cho thấy rằng, các yếu tố pháp lý, kiểm soát của quản lý nhà nước và công tác đầu tư dự án có ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả đầu tư và khai thác chung cư cao tầng thương mại tại Đồng Nai và Bình Dương. Kết quả phân tích sẽ làm tiền đề để đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đầu tư xây dựng và quản lý khai thác chung cư tại địa phận các tỉnh Đồng Nai và Bình Dương.</p> 2026-05-12T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1119 Nghiên cứu so sánh phương pháp MVFOSM và FORM: Ảnh hưởng của cách biểu diễn hàm trạng thái giới hạn và hệ số biến thiên 2026-04-07T15:39:37+00:00 Đoàn Như Sơn vanson.ctt@vimaru.edu.vn Trần Anh Tuấn tuanta@utt.edu.vn <p>Bài báo này nghiên cứu và so sánh đặc tính của hai phương pháp phân tích độ tin cậy thường được sử dụng trong kỹ thuật xây dựng, bao gồm phương pháp mô men bậc hai với khai triển bậc nhất tại giá trị trung bình (MVFOSM: Moment-based First-Order Second-Moment) và phương pháp độ tin cậy bậc nhất (FORM: First-Order Reliability Method). Trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá mức độ phụ thuộc của kết quả phân tích độ tin cậy vào (i) cách định nghĩa hàm trạng thái và (ii) mức độ biến thiên của các biến ngẫu nhiên, được đặc trưng thông qua hệ số biến thiên (COV), trong khuôn khổ phương pháp MVFOSM. Thông qua một loạt các ví dụ, nghiên cứu chỉ ra rằng MVFOSM có độ nhạy cao đối với dạng hàm trạng thái và sự gia tăng của COV, dẫn đến sai lệch đáng kể trong việc ước lượng chỉ số độ tin cậy đối với các bài toán phi tuyến. Ngược lại, FORM cho thấy khả năng mô tả chính xác hơn bề mặt trạng thái giới hạn và mang lại kết quả ổn định hơn trong nhiều mức độ bất định khác nhau. Các kết quả thu được khẳng định rằng FORM vượt trội hơn MVFOSM, đặc biệt đối với các bài toán kỹ thuật xây dựng có tính phi tuyến và độ không chắc chắn lớn.</p> 2026-06-16T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1127 NovaLog AI: Hệ thống học máy dự báo thời gian di chuyển và hỗ trợ định tuyến Logistic 2026-04-01T12:34:37+00:00 Nguyễn Trọng Dũng dungnt88@utt.edu.vn Nguyễn Văn Hải haitanphu.com@gmail.com Triệu Vân Anh aavananhtrieu@gmail.com Đỗ Thị Hạnh dothihanh205@gmail.com <p>Chi phí logistics tại Việt Nam hiện chiếm khoảng 16,8% tổng sản phẩm quốc nội (GDP), cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu do những hạn chế về hạ tầng và sự phân mảnh, thiếu đồng bộ của dữ liệu. Để giải quyết bài toán này, nghiên cứu đề xuất xây dựng hệ thống NovaLog AI nhằm dự báo nhu cầu và tối ưu hóa quy trình quản lý tại các trạm trung chuyển hàng hóa. Nghiên cứu sử dụng một bộ dữ liệu thực chứng đa chiều tác động đến thời gian di chuyển, bao gồm các đặc trưng về không gian, thời gian và khí tượng học. Tám thuật toán học máy phổ biến đã được triển khai và so sánh hiệu suất thông qua phương pháp xác thực chéo kết hợp với 30 lần chạy mô phỏng Monte Carlo để kiểm định tính ổn định. Kết quả đánh giá tổng hợp dựa trên các chỉ số R² và RMSE chỉ ra rằng XGBoost là mô hình dự báo chính xác nhất, với R² đạt 0.9507 (RMSE = 2.3531) trên tập huấn luyện và R² đạt 0.8399 (RMSE = 4.2512) trên tập kiểm tra. Đồng thời, thông qua việc xếp hạng độ quan trọng của các biến, nghiên cứu xác định được 4 yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến hiệu suất dự báo là: quãng đường, giờ đi, vĩ độ đi và độ ẩm. Hệ thống NovaLog AI cung cấp cơ sở khoa học thiết thực cho các doanh nghiệp trong việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tối ưu hóa lộ trình, cải thiện hiệu quả vận hành chuỗi cung ứng và cắt giảm chi phí logistics tại Việt Nam.</p> 2026-04-26T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1156 Nghiên cứu ý định sử dụng dịch vụ vận tải hành khách công cộng khi áp dụng chuyển đổi số tại thành phố Hà Nội 2026-05-26T09:51:27+00:00 Trần Đình Tuấn tuantd@utt.edu.vn Hoàng Thị Hồng Lê lehth@utt.edu.vn Đặng Việt Phương phuongdv@utt.edu.vn <p>Nghiên cứu này vận dụng mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ SERVPERF để nghiên cứu&nbsp; cảm nhận của hành khách về các khía cạnh của chất lượng dịch vụ VTHKCC trong môi trường chuyển đổi số. Quá trình nghiên cứu tiến hành khảo sát và thu được 217 phiếu hợp lệ, sau đó phân tích trên Smart PLS3, kết quả cho thấy các yếu tố tin cậy có ảnh hưởng cùng chiều, yếu tố đảm bảo và đồng cảm, đáp ứng có ảnh hưởng cùng chiều và đáng kể đến sự hài lòng và ý định sử dụng dịch vụ vận tải hành khách công cộng trong bối cảnh chuyển đổi số.</p> 2026-06-04T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1173 Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo kỹ sư ô tô năng lượng mới tại Trường Đại học Công nghệ Giao thông vận tải đáp ứng yêu cầu chương trình hợp tác Việt - Trung 2026-05-10T04:17:55+00:00 Phùng Anh Tuấn tuanpa@utt.edu.vn Nguyễn Thị Vân Anh vananhnt@utt.edu.vn <table> <tbody> <tr> <td> <p>Trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng xanh toàn cầu, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành xe năng lượng mới trở thành yêu cầu cấp thiết đối với Việt Nam. Bài báo tập trung nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo trong chương trình hợp tác mô hình “3+1” giữa Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải (UTT) và Trường Cao đẳng Kỹ thuật nghề Giao thông Quảng Tây (Trung Quốc) nhằm đáp ứng lộ trình chuyển đổi năng lượng xanh của Chính phủ. Bằng phương pháp phân tích đối soát khung chương trình đào tạo và khảo sát thực tiễn tại hệ thống xưởng thực hành hiện đại của đối tác, tác giả đã xác định các rào cản về thích nghi kỹ thuật và ngôn ngữ chuyên ngành mà sinh viên thường gặp phải. Nghiên cứu đề xuất bốn nhóm giải pháp trọng tâm: (1) Đồng bộ hóa các học phần công nghệ cốt lõi (Pin, BMS, hệ thống lái thông minh) dựa trên tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp 1+X; (2) Ứng dụng hệ thống mô phỏng số và thực tế ảo (VR/AR) trong giảng dạy; (3) Bồi dưỡng đội ngũ giảng viên theo hướng thông tin hóa; (4) Thiết lập hệ sinh thái hợp tác với các doanh nghiệp sản xuất xe điện như BYD, Wuling tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để chuẩn hóa quy trình hợp tác đào tạo, giúp sinh viên làm chủ công nghệ xe năng lượng mới và đáp ứng các tiêu chuẩn của chuỗi cung ứng nhân lực quốc tế theo khung tham chiếu trình độ ASEAN.</p> </td> </tr> </tbody> </table> 2026-05-13T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1184 Ứng dụng mô hình mạng nơ-ron đa lớp (MLP) trong xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ sụt lún khu vực Hà Nội, Việt Nam 2026-04-19T12:11:34+00:00 Nguyễn Thanh Tuấn tuannt94@utt.edu.vn Bùi Thị Như nhubt@utt.edu.vn Trần Thanh Hải haitt@caa.gov.vn <p>Lún bề mặt là một trong những mối nguy hiểm địa kỹ thuật lớn ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng, kết cấu kỹ thuật và sự phát triển bền vững của các đô thị. Do đó, việc dự đoán và xác định các khu vực dễ bị lún bề mặt ngày càng thu hút sự chú ý trong những năm gần đây. Nghiên cứu này sử dụng mô hình Mạng nơ-ron đa lớp (MLP) để phân tích không gian để lập bản đồ mức độ nhạy cảm với lún bề mặt ở khu vực Hà Nội. Dữ liệu lún bề mặt được lấy từ hình ảnh vệ tinh và được xử lý bằng kỹ thuật PS-InSAR để định lượng biến dạng bề mặt. Bộ dữ liệu thu được sau đó được chia thành hai tập con, với 70% được sử dụng để đào tạo mô hình và 30% để xác nhận. Tổng cộng có 14 yếu tố ảnh hưởng được chọn làm biến đầu vào, bao gồm: độ sâu mực nước ngầm, lượng mưa, khoảng cách đến sông, khoảng cách đến đường, khoảng cách đến đứt gãy, sử dụng đất (LULC), chỉ số độ ẩm địa hình (TWI), chỉ số thực vật chênh lệch chuẩn hóa (NDVI), chỉ số sức mạnh dòng chảy (SPI), địa chất, hướng bờ dốc, hình dáng bề mặt, góc bờ dốc, độ cao địa hình. Phương pháp Tỷ lệ tần suất (FR) được áp dụng để đánh giá mối quan hệ giữa các yếu tố này và sự xuất hiện của hiện tượng lún bề mặt. Hiệu suất dự đoán của mô hình và bản đồ khả năng lún bề mặt được tạo ra đã được xác thực bằng cách sử dụng sai số bình phương trung bình gốc (RMSE) và diện tích dưới đường cong đặc tính hoạt động của bộ thu (AUC–ROC). Phân tích AUC cho thấy mô hình MLP đạt độ chính xác dự đoán cao, với giá trị AUC = 0,873 với tập đào tạo và AUC = 0,869 với tập kiểm chứng.</p> 2026-04-24T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1191 Các yếu tố cấu trúc và hiệu quả thương mại quốc tế của doanh nghiệp tại các tỉnh thành trên Hành lang kinh tế Đông - Tây ở Việt Nam: Vai trò trung gian của năng lực hạ tầng logistics 2026-05-18T06:46:33+00:00 Cấn Tất Lĩnh linhct@utt.edu.vn Bùi Văn Viễn vienbv@utt.edu.vn Trần Thế Tuân tuantt83@utt.edu.vn <div> <p>Nghiên cứu này phân tích tác động của các yếu tố cấu trúc, gồm thể chế – chính sách, đầu tư – tài chính, quy hoạch – liên kết vùng và chuyển đổi số, đến hiệu quả thương mại quốc tế của doanh nghiệp trên Hành lang Kinh tế Đông – Tây tại Việt Nam, với vai trò trung gian của năng lực hạ tầng logistics. Dữ liệu gồm 396 quan sát hợp lệ sau khi sàng lọc và được phân tích bằng <span lang="VI">phương pháp </span>PLS-SEM. Kết quả nghiên<span lang="VI"> cứu </span>cho thấy các thang đo <span lang="VI">đều đạt yêu cầu về độ tin cậy, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt.</span> <span lang="VI">Đồng thời, các yếu tố cấu trúc đều có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến hiệu quả thương mại quốc tế.</span> Năng lực hạ tầng logistics là<span lang="VI"> biến</span> trung gian một phần<span lang="VI">, đóng vai trò quan trọng trong cơ chế truyền dẫn tác động từ các yếu tố cấu trúc đến hiệu quả thương mại</span>. Đáng chú ý, thể chế – chính sách có tác động mạnh nhất đến hiệu quả thương mại, trong khi quy hoạch – liên kết vùng ảnh hưởng lớn nhất đến năng lực hạ tầng logistics. Nghiên cứu góp phần làm rõ cơ chế truyền dẫn giữa các yếu tố cấu trúc và hiệu quả thương mại, đồng thời đề xuất hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả logistics và thúc đẩy thương mại quốc tế.</p> </div> 2026-06-18T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1201 Mối quan hệ phi tuyến giữa thu nhập và cường độ carbon ở các quốc gia đang phát triển châu Á 2026-04-24T04:18:49+00:00 Nguyễn Tiến Đức tienduc@vnu.edu.vn Cù Thị Hiền hienct@utt.edu.vn Nguyễn Thiện Phúc phucnguyen36.work@gmail.com Phạm Thị Hồng Ánh hnganh201005@gmail.com <p>Trong bối cảnh các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á đồng thời phải duy trì tăng trưởng và giảm áp lực môi trường, việc làm rõ mối quan hệ giữa thu nhập và cường độ carbon có ý nghĩa quan trọng. Bài viết phân tích mối quan hệ phi tuyến giữa thu nhập bình quân đầu người và cường độ carbon ở các quốc gia đang phát triển châu Á. Sử dụng dữ liệu bảng của 18 quốc gia giai đoạn 2010–2024 và mô hình EKC ước lượng bằng hồi quy tác động ngẫu nhiên với sai số chuẩn điều chỉnh theo cụm quốc gia, kết quả cho thấy thu nhập tác động đến cường độ carbon theo dạng chữ U ngược. Điểm ngoặt ước lượng tương ứng với mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 2.518 USD. Bên cạnh đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài và độ mở thương mại có tác động cùng chiều đến cường độ carbon. Kết quả hàm ý rằng quá trình giảm cường độ carbon không diễn ra tự động cùng với tăng trưởng, mà phụ thuộc vào chất lượng đầu tư, thương mại và định hướng chuyển dịch mô hình tăng trưởng.</p> 2026-06-17T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1208 Áp dụng phương pháp phân tích thứ bậc xác định các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam 2026-06-04T01:20:14+00:00 Vũ Thị Liên lienvuktnn1972@gmail.com <p>Trong bối cảnh rủi ro khí hậu gia tăng và xu hướng phát triển bền vững toàn cầu, ngân hàng xanh đang trở thành công cụ quan trọng để định hướng dòng vốn vào các hoạt động thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, tại Việt Nam, lĩnh vực này vẫn đang ở giai đoạn đầu và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc để xác định và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngân hàng xanh. Sáu nhóm yếu tố được xem xét trong nghiên cứu, bao gồm khung thể chế - pháp lý, công nghệ, năng lực tổ chức, nguồn nhân lực, yếu tố ESG và áp lực thị trường. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam chủ yếu được thúc đẩy bởi khung pháp lý và áp lực môi trường, trong khi năng lực nội bộ và thị trường đóng vai trò hỗ trợ. Nghiên cứu cũng đề xuất các hàm ý chính sách nhằm hoàn thiện pháp lý, tăng cường tích hợp ESG, nâng cao năng lực tổ chức và thúc đẩy nhận thức của các bên liên quan.</p> 2026-06-25T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1217 Ứng dụng phương pháp vector điện áp quay thiết kế, chế tạo mới khối kiểm soát góc nghiêng BKK-18-V thay thế khối БКК-18 trên máy bay trực thăng 2026-05-16T14:36:54+00:00 Đạt Nguyễn Văn nguyendat0t9312@gmail.com Thản Trần Bình thanbinhvn203@gmail.com Dũng Phan Đức Dungcnttk51mta@gmail.com Hiếu Đỗ Minh dmh29112000@gmail.com Vũ Cao Minh Khoa khoavcm@utt.edu.vn Giang Phạm Trường Giangpt@utt.edu.vn Hoàng Thị Thúy thuyht@utt.edu.vn <table> <tbody> <tr> <td class="s25"> <div> <p class="s38"><span class="s27">Tóm tắt:</span> <span class="s29">Bài báo trình bày nghiên cứu ứng dụng phương pháp vector điện áp quay trong thiết kế và chế tạo khối kiểm soát góc nghiêng BKK-18-V nhằm thay thế khối БКК-18 trang bị trên </span><span class="s29">máy bay </span><span class="s29">t</span><span class="s29">rực thăng</span><span class="s29">. Trên cơ sở phân tích chức năng của khối БКК-18, nhóm tác giả xây dựng thuật toán xác định góc nghiêng từ tín hiệu xenxin ba pha bằng phương pháp vector không gian. Các tín hiệu đầu vào được chuẩn hóa, số hóa thông qua bộ ADC, sau đó xử lý</span><span class="s29">, ứng dụng phương pháp vector điện áp quay</span><span class="s29"> để xác định giá trị góc</span><span class="s29"> nghiêng của 03 đồng hồ chân trời</span> <span class="s29">(</span><span class="s29">ba</span><span class="s29"> kênh)</span><span class="s29">.</span> <span class="s29">Các </span><span class="s29">giá trị góc nghiêng trên được đưa vào xử lý thuật toán </span><span class="s29">phát hiện sai lệch giữa các kênh và đưa ra cảnh báo </span><span class="s29">đạt </span><span class="s29">góc nghiêng giới hạn</span><span class="s29"> của máy bay</span><span class="s29">. Mô hình hệ thống được xây dựng và kiểm chứng trên Matlab/Simulink cho thấy sai số xác định góc nhỏ, đảm bảo độ chính xác cao. Trên cơ sở đó, khối BKK-18-V được thiết kế, chế tạo và thử nghiệm thực tế. Kết quả cho thấy thiết bị hoạt động ổn định, đồng bộ với các hệ thống trên máy bay, có khả năng thay thế hoàn toàn khối БКК-18. Nghiên cứu góp phần làm chủ công nghệ, giảm phụ thuộc vào nước ngoài và nâng cao hiệu quả bảo đảm kỹ thuật cho trang</span><span class="s29"> t</span><span class="s29">hiết</span><span class="s29"> bị hàng không</span> <span class="s29">trong n</span><span class="s29">ước</span><span class="s29">.</span></p> </div> </td> </tr> </tbody> </table> <p>&nbsp;</p> 2026-06-23T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông https://jstt.vn/index.php/vn/article/view/1226 Tích hợp quá trình xử lý nước thải đô thị và sinh tổng hợp polyhydroxybutyrate (PHB) bằng chủng vi khuẩn lam Synechocystis salina M8 2026-05-25T08:13:47+00:00 Nguyễn Thị Phương Dung dungntp@utt.edu.vn Lưu Thị Thu Hà haltt@utt.edu.vn Vũ Quốc Hưng vuquochung@gmail.com Nguyễn Thị Huyền Trang Trangbnguyen4@gmail.com Nguyễn Thị Nga ngant80@utt.edu.vn <table> <tbody> <tr> <td> <p>Công nghệ ứng dụng vi tảo và vi khuẩn lam đang được quan tâm như một hướng tiếp cận bền vững trong xử lý nước thải nhờ khả năng kết hợp hiệu quả giữa loại bỏ chất ô nhiễm và tạo sinh khối có giá trị gia tăng. Trong nghiên cứu này, chủng vi khuẩn lam quang tự dưỡng <em>Synechocystis</em> salina M8 (<em>S. salina</em> M8), được phân lập từ nguồn nước nông nghiệp tại Việt Nam, được sử dụng nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng trong nước thải sinh hoạt dưới hai điều kiện tiệt trùng và không tiệt trùng, đồng thời xác định tiềm năng tích lũy polyhydroxybutyrate (PHB) ở quy mô phòng thí nghiệm. Kết quả cho thấy <em>S. salina</em> M8 có khả năng sinh trưởng hiệu quả trong môi trường nước thải không tiệt trùng, thể hiện khả năng thích nghi tốt trong hệ vi sinh vật hỗn hợp. Ở điều kiện vận hành tối ưu (pH = 7; tỷ lệ C:N:P = 100:10:1; mật độ giống ban đầu 0,5 g/L; nhiệt độ 27°C; cường độ ánh sáng 13.500 Lux; sục khí 0,1 vvm với 2% CO₂), sau 7 ngày nuôi cấy, sinh khối đạt 2,63 g/L, trong khi hàm lượng PHB tích lũy đạt 48% khối lượng khô tế bào, được xác định bằng phương pháp GC-FID. Cùng với quá trình sinh trưởng và tích lũy PHB, hiệu quả xử lý nước thải cũng được ghi nhận ở mức cao, với hiệu suất loại bỏ COD, NH₄⁺, tổng nitrogen (T-N), tổng phosphorus (T-P) và phosphate (PO₄³⁻) lần lượt đạt trên 83,5%, 87,4%, 87,1%, 85,1% và 83,8%. Nước thải sau xử lý đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 14:2025/BTNMT (cột B), cho thấy khả năng ứng dụng thực tiễn của hệ thống. Những kết quả này khẳng định tiềm năng của <em>S. salina</em> M8 như một đối tượng phù hợp cho các mô hình xử lý nước thải sinh hoạt kết hợp thu hồi sinh khối giàu PHB. Cách tiếp cận này không chỉ góp phần giảm tải ô nhiễm môi trường mà còn tạo ra vật liệu sinh học có khả năng thay thế nhựa truyền thống từ nguồn hóa thạch, phù hợp với định hướng phát triển công nghệ xanh và kinh tế tuần hoàn.</p> </td> </tr> </tbody> </table> 2026-06-19T00:00:00+00:00 Bản quyền (c) 2026 Tạp chí điện tử Khoa học và Công nghệ Giao thông